Cường quốc nhỏ tuổi nhất, và tham vọng như 5000 năm Lịch sử ( Chủ Nghĩa Thực dụng )



TÔI ĐẾM LỊCH SỬ NƯỚC MỸ?


A. Đặt vấn đề và lý do khai thác chủ đề này?

Lời nói đầu tiên, tôi cần khẳng định là những văn từ trong bài viết, không có ý động chạm hay hạ thấp một văn hoá hay yếu tố lịch nào cả, tất cả đều nhìn từ con mắt khá khách quan từ CLB Triết học trẻ.

Thứ nhất, câu chuyện chúng ta phải lôi chính minh chứng lịch sử ra nói, bằng các văn tự hoặc dữ liệu chính sử ra nói.

Tiểu sử của nước Mỹ ( Dưới dạng bài viết nên chỉ nói các ý chính)

- Về tuổi tác, siêu cường Hoa Kì đếm năm trang sử, triều đại Nhà Lý nước ta chấp nhận thua 34 năm. Đừng chỉ đếm trên trang sử, phải công nhận, họ có sự tiến bộ bởi bàn tay sắc tộc, nơi cái u uất nhà cầm trịch về tư sản lẫn quyền lực.

B. Về sự hình thành và phát triển: 

(Nguồn tham khảo: yeulichsu.edu.vn)

Phát hiện ra châu Mỹ và thời kỳ thuộc địa

Năm 1492, nhà thám hiểm Christopher Columbus dưới sự bảo trợ của Tây Ban Nha đã tìm ra châu Mỹ, mở đầu cho làn sóng người châu Âu tới khai phá vùng đất mới.

Trong các thế kỷ XVI–XVII:

  • Tây Ban Nha, Pháp và Anh lần lượt xây dựng thuộc địa tại Bắc Mỹ.

  • Người Anh lập nên 13 thuộc địa dọc bờ đông Bắc Mỹ.

  • Nhiều người châu Âu di cư sang Mỹ để tìm tự do tôn giáo, đất đai và cơ hội kinh tế.

Tuy nhiên, chính quyền Anh áp đặt nhiều loại thuế nặng nề lên các thuộc địa, khiến người dân bất mã

Sự ra đời của Hoa Kỳ

Năm 1775, cuộc chiến tranh giành độc lập giữa các thuộc địa và Anh bùng nổ.

Ngày 4/7/1776, bản Tuyên ngôn Độc lập do Thomas Jefferson soạn thảo được công bố, đánh dấu sự ra đời của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Năm 1783, dưới sự lãnh đạo của George Washington cùng sự hỗ trợ của Pháp, Mỹ giành chiến thắng trước Anh.

Đến năm 1789:

  • George Washington trở thành Tổng thống đầu tiên.

  • Hiến pháp Hoa Kỳ chính thức được áp dụng.

Mở rộng lãnh thổ và phát triển quốc gia

Sau khi độc lập, Mỹ nhanh chóng mở rộng lãnh thổ:

  • Mua vùng Louisiana từ Pháp năm 1803.

  • Nhận Florida từ Tây Ban Nha.

  • Sáp nhập Texas.

  • Chiến thắng Mexico để giành California và nhiều vùng phía Tây.

Quá trình mở rộng này giúp diện tích nước Mỹ tăng mạnh và thúc đẩy làn sóng di cư về phía Tây.

Song song với đó:

  • Đường sắt phát triển.

  • Công nghiệp hóa bùng nổ.

  • Các thành phố lớn hình thành nhanh chóng.

Nội chiến Hoa Kỳ

Giữa thế kỷ XIX, Mỹ chia rẽ sâu sắc:

  • Miền Bắc phát triển công nghiệp và phản đối chế độ nô lệ.

  • Miền Nam phụ thuộc vào lao động nô lệ trong nông nghiệp.

Năm 1861, Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ.

Sau 4 năm chiến tranh:

  • Phe miền Bắc chiến thắng.

  • Chế độ nô lệ bị xóa bỏ.

  • Liên bang Hoa Kỳ được giữ vững.

Tổng thống Abraham Lincoln trở thành biểu tượng của việc bảo vệ sự thống nhất quốc gia.

Mỹ vươn lên thành cường quốc

Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX:

  • Mỹ công nghiệp hóa cực nhanh.

  • Thu hút hàng triệu người nhập cư từ châu Âu.

  • Các tập đoàn lớn và hệ thống ngân hàng phát triển mạnh.

Mỹ dần trở thành trung tâm kinh tế mới của thế giới.

<=> Tôi nói đến đây thôi vì đằng sau đó là giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và Tội ác Đế Quốc Mỹ gây ra cho nhân loại. Giai đoạn thành siêu cường đến nay vẫn là siêu cường. Nước Mỹ biết cách mặc cả và danh ma hơn 200 năm.



NỔI TIẾNG, GIÀU CÓ VÀ NGANG TÀN. NƯỚC MỸ VẪN CHƯA THỂ CHUNG MÂM VỚI ANH, PHÁP, ĐỨC, Ý,...


Làm sao lại khẳng định như vậy? Yếu tố này không cần tranh cãi?

 Khi “Sự Thật” nói lên hết, tư tưởng nước Mỹ trong giai đoạn hình thành hay gây dựng, đều chịu ảnh hưởng lớn từ Châu Âu. Cái lôi các nền văn minh lớn (Hy Lạp cổ đại, La Mã,..)

 Cộng thêm tá phần, vấn đề suy nghĩ chung của họ, ‘Tại sao không là người Pháp, người Ý, người Anh. Suy nghĩ giống nguồn cội con người là ổn.

Sự biến loạn trong tranh chấp hàng tá tư tưởng, Nước Mỹ vắt tay lên chán chẳng hề có sự chủ đạo về tư tưởng lớn ở đó.

Vậy nước Mỹ học hỏi tư tưởng từ Châu Âu như thế nào?

Trước khi trở thành cường quốc công nghệ và kinh tế hàng đầu thế giới, nước Mỹ chịu ảnh hưởng rất lớn từ châu Âu trên hầu hết mọi lĩnh vực.

Những người đầu tiên xây dựng nước Mỹ chủ yếu là dân di cư từ Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Hà Lan, vì vậy họ mang theo ngôn ngữ, tôn giáo, luật pháp, văn hóa và tư tưởng phương Tây sang Bắc Mỹ.

Đặc biệt, Mỹ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ triết học Khai sáng châu Âu thế kỷ XVII–XVIII, khi các nhà tư tưởng như John Locke đề cao quyền tự do và quyền con người, Montesquieu đưa ra học thuyết tam quyền phân lập, còn Jean-Jacques Rousseau nhấn mạnh chủ quyền thuộc về nhân dân. Những tư tưởng này trở thành nền tảng cho Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp và mô hình dân chủ của Hoa Kỳ sau này.

Có thể nói, nước Mỹ ban đầu là sự tiếp nối của nền văn minh châu Âu trên vùng đất mới Bắc Mỹ.

Nước Mỹ có thích bị gọi là một Châu Âu thứ hai không?

Câu hỏi này, đưa cho người Châu Âu, họ rất thích, khác gì họ là Tier 2 Châu Âu. Đặt lên bàn đàm phán sau này, những người thống lĩnh vùng Bắc Mỹ này sẽ thua thiệt về trọng lượng câu từ. Người Mỹ hay thống lĩnh của họ, ngược lại không hề thích gọi mình là Tier 2 Châu Âu.

Tại sao họ tự tin có thể không trở thành Tier 2 Châu Âu:

  • Vị trí địa lý - Địa chính trị - Nơi tập trung của “Tiến bộ” - Lợi ích tối đa

Đấy là câu chuyện bên lề, vậy câu chuyện chính, lý do họ chưa vững vàng ở đây là gì? Họ thiếu một suy nghĩ chung, cái nền tư tưởng mà mọi tầng lớp - giai cấp đều vịn vào như thứ tinh hoa một nền văn hoá.

Móc nối lại lịch sử, nước Mỹ tại sao chưa có nền tư tưởng chủ đạo? 

  1. Lịch sử quá ngắn. (Nhìn nhận đúng các nước có tư tưởng lớn, kể đến như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp - La Mã. Tất cả họ trải qua bao nhiêu thăng trầm và tích luỹ lịch sử. Văn minh của họ là minh chứng cụ thể nhất)

  2. Sự phụ thuộc và vay mượn từ Châu Âu (Vấn đề này không đáng nói, minh chứng lịch sử vẫn là yếu tố chính, khiến họ chưa vững)

“CHUNG MÂM” - THIẾT LẬP TƯ TƯỞNG CHỦ ĐẠO 

“CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG - HOA KỲ”

Chủ nghĩa thực dụng là gì?

Chủ nghĩa thực dụng là một trường phái triết học ra đời tại Mỹ vào cuối thế kỷ XIX. Tư tưởng cốt lõi của nó cho rằng giá trị của một tư tưởng hay chân lý không nằm ở lý thuyết trừu tượng, mà nằm ở hiệu quả thực tế và khả năng áp dụng vào cuộc sống. Nói đơn giản, điều gì mang lại kết quả, giúp xã hội vận hành tốt hơn và giải quyết được vấn đề thực tế thì điều đó được xem là đúng và có giá trị.

Cha đẻ “Chủ nghĩa Thực dụng”

Người đặt nền móng đầu tiên cho chủ nghĩa thực dụng là Charles Sanders Peirce. Sau đó, William James là người phổ biến rộng rãi tư tưởng này, còn John Dewey phát triển nó mạnh trong giáo dục, xã hội và chính trị. Trong đó, John Dewey có ảnh hưởng rất lớn đến cách tư duy hiện đại của nước Mỹ.

Chủ nghĩa Thực dung khởi nguyên của mọi suy nghĩ người Mỹ

Chủ nghĩa thực dụng xuất hiện trong bối cảnh nước Mỹ đang công nghiệp hóa nhanh, mở rộng kinh tế và trở thành một xã hội năng động. Vì Mỹ là quốc gia nhập cư, không có nền triết học cổ đại lâu đời như châu Âu hay Trung Quốc, nên người Mỹ cần một hệ tư tưởng phù hợp với xã hội mới — đề cao hành động, sáng tạo, hiệu quả và khả năng thích nghi hơn là tranh luận lý thuyết quá trừu tượng. Chính vì vậy, chủ nghĩa thực dụng dần trở thành “tinh thần tư duy” rất đặc trưng của nước Mỹ.

Tư tưởng này đem lại ảnh hưởng lớn cho xã hội và kinh tế Mỹ. Trong giáo dục, nó khuyến khích học đi đôi với thực hành, đào tạo con người giải quyết vấn đề thực tế thay vì chỉ học thuộc lý thuyết. Trong kinh tế, nó thúc đẩy tinh thần kinh doanh, đổi mới và cạnh tranh, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản Mỹ phát triển mạnh. Trong khoa học và công nghệ, tư duy thực dụng giúp người Mỹ tập trung vào việc biến ý tưởng thành sản phẩm có thể ứng dụng và thương mại hóa nhanh chóng.

Chủ nghĩa thực dụng cũng góp phần hình thành “Giấc mơ Mỹ” — niềm tin rằng bất kỳ ai, dù xuất thân thế nào, nếu có năng lực và hành động hiệu quả đều có thể thành công. Điều này tạo nên tinh thần sáng tạo, dám thử nghiệm và liên tục đổi mới của xã hội Mỹ hiện đại.

Chủ nghĩa Thực dụng khiến nước Mỹ ngồi chung mâm với các anh Tài Châu Âu…

Có thể nói chủ nghĩa thực dụng xuất hiện đã giúp nước Mỹ “ngồi chung mâm” với các nền triết học lớn của châu Âu vì trước đó, Mỹ chủ yếu chỉ tiếp nhận tư tưởng từ phương Tây chứ chưa tạo ra được một hệ tư tưởng mang bản sắc riêng. Trong suốt thời kỳ lập quốc và phát triển ban đầu, nước Mỹ chịu ảnh hưởng nặng từ triết học Khai sáng châu Âu với các tư tưởng của John Locke, Montesquieu hay Jean-Jacques Rousseau. Điều đó khiến Mỹ bị xem như “người học hỏi” hơn là trung tâm tạo ra tư tưởng mới.

Đến cuối thế kỷ XIX, khi Charles Sanders Peirce, William James và John Dewey xây dựng chủ nghĩa thực dụng, lần đầu tiên nước Mỹ tạo ra một trường phái triết học lớn có ảnh hưởng toàn cầu và mang đậm bản sắc Mỹ. Nếu triết học châu Âu thường đi sâu vào các vấn đề siêu hình, bản thể hay lý tính trừu tượng, thì chủ nghĩa thực dụng của Mỹ tập trung vào hành động, hiệu quả thực tế và khả năng ứng dụng vào đời sống. Chính điều này rất phù hợp với xã hội công nghiệp, kinh doanh và khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh ở Mỹ thời đó.

Chủ nghĩa thực dụng không chỉ là triết học trong sách vở mà còn tác động trực tiếp đến giáo dục, kinh tế, khoa học và cách vận hành xã hội Mỹ. Nó tạo nên tinh thần “làm được mới là đúng”, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thương mại hóa công nghệ và tư duy linh hoạt. Nhờ vậy, nước Mỹ không còn chỉ là quốc gia học tư tưởng từ châu Âu mà bắt đầu trở thành trung tâm sản sinh tư tưởng mới, đủ sức ảnh hưởng ngược trở lại phương Tây và thế giới.


CLB Triết Học Trẻ
24 May 2026
Bình luận (0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên để chia sẻ cảm nghĩ của bạn.

Để lại bình luận
Bạn cần đăng nhập để bình luận.